1. Doanh số bán
lẻ của thị trường Mỹ
Chi
tiêu tiêu dùng chiếm 70% trong tất cả các hoạt động kinh tế của Hoa Kỳ. Doanh
số bán lẻ chiếm 1/3 trong số đó. Nếu người tiêu dùng tiếp tục chi tiêu, đó là
tín hiệu của sự gia tăng toàn bộ trong nền kinh tế. Để theo dõi sự tiêu dùng,
Viện điều ra dân số Hoa Kỳ đề nghị hàng ngàn nhà bán lẻ mỗi tháng cung cấp
doanh số mới nhất của họ. Nhờ vậy mà mỗi tháng chúng ta có được bản báo cáo
doanh số bán lẻ như là một trong những công cụ đo lường tốt nhất sự thay đổi
trong mô hình chi tiêu của ngưởi tiêu dùng.
Nhưng doanh số bán lẻ cũng còn một vài thiếu sót nhất định.
Nó chỉ cho biết sức mua hàng hóa hiện tại, chẳng hạn như các mặt hàng có thể tìm thấy ở : cửa hàng đồ điện, cửa hàng ôtô, trạm gas và nhà hàng. Bản báo cáo không cho chúng ta biết về việc chi tiêu trong lĩnh vực dịch vụ như : hàng không, nha khoa, làm tóc, bảo hiểm và điện ảnh. Cho đến bây giờ, ngành kinh doanh dịch vụ chiếm gần 2/3 chi tiêu cá nhân.
Nó được đo lường như thế nào?
Một bảng khảo sát được gởi ngẫu nhiên đến 5.000 cửa hàng bán lẻ lớn, nhỏ trên khắp đất nước. Những cửa hàng nhận được chúng vào khoảng 3 ngày cuối tháng. Sau đó họ sẽ trả lời,r ồi trả lại trong vòng một tuần. Tuy nhiên, chỉ có ít hơn 50% cửa hàng được hỏi trả lại đúng hạn. Mặc dù vậy chính phủ vẫn xem lại dữ liệu để chuẩn bị cho bản báo tạm – một trong ba bản sẽ được công bố trong tháng. Bản tạm này cung cấp một cái nhìn nhanh và đánh giá về sự thay đổi trong cách chi của người tiêu dùng sơ lược.
Khoảng 8.000 người bán lẻ khác thì được thăm dò trong nhiều ngày để có được một bức tranh toàn diện về hoạt động của các chủ hàng. Kết quả của bảng khảo sát sẽ được điều chỉnh và cho ra bản báo cáo thứ 2. Bốn tuần sau, Bản báo cáo Doanh số bán lẻ cuối cùng được công bố. Tổng cộng có khoảng 13.000 người được hỏi và có khoảng 75% trả lời.
Làm thế nào để hiểu được nó?
Có một sự mạo hiểm khi lệ thuộc quá nhiều vào Bản khảo sát sơ bộ bởi vì chúng dựa trên một số nhỏ lượng người được khảo sát. Để có được cái nhìn chính xác về thói quen tiêu dùng cần phải dựa vào doanh số bán ra trung bình trong ba tháng hoặc xem qua dữ liệu trong ba tháng qua rồi so sánh nó với cùng thời kỳ của năm trước.
Doanh số bán lẻ trừ ôtô là gì?
Khoảng 25% tổng số lượng tiền chi tiêu của người tiêu dùng là mua các sản phẩm giao thông và các sản phẩm liên quan. Số liệu này thay đổi rất mạnh từ tháng này sang tháng khác và nó bóp méo bức tranh doanh số bán lẻ. Để loại trừ nó, có một hàng riêng trong bản báo cáo, nơi mà chính phủ loại bỏ chi tiêu cho ôtô để mọi người có thể theo dõi rõ hơn xu thế tiêu dùng.
Nó ảnh hưởng như thế nào đối với đồng đô?
Thị trường tiền tệ nhận thấy bản báo cáo Doanh số bán lẻ như là một công cụ đòi hỏi sự tinh tế để phân tích. Trong khi, những người nước ngoài thì thích thấy được tinh thần mua sắm của người tiêu dùng Hoa Kỳ vì nó sẽ khẳng định việc sự chắc chắn của lãi suất (điều mà làm USD tăng giá), một sự chi tiêu quá mức sẽ báo hiệu sự rắc rối cho USD bởi vì hàng nhập khẩu quá nhiều. Một sự nhảy vọt trong việc nhập khẩu sẽ làm gia tăng nhu cầu đối với các đồng tiền nước ngoài để chi trả cho hàng nhập khẩu và điều này có thể làm tổn thương USD.
Nhưng doanh số bán lẻ cũng còn một vài thiếu sót nhất định.
Nó chỉ cho biết sức mua hàng hóa hiện tại, chẳng hạn như các mặt hàng có thể tìm thấy ở : cửa hàng đồ điện, cửa hàng ôtô, trạm gas và nhà hàng. Bản báo cáo không cho chúng ta biết về việc chi tiêu trong lĩnh vực dịch vụ như : hàng không, nha khoa, làm tóc, bảo hiểm và điện ảnh. Cho đến bây giờ, ngành kinh doanh dịch vụ chiếm gần 2/3 chi tiêu cá nhân.
Nó được đo lường như thế nào?
Một bảng khảo sát được gởi ngẫu nhiên đến 5.000 cửa hàng bán lẻ lớn, nhỏ trên khắp đất nước. Những cửa hàng nhận được chúng vào khoảng 3 ngày cuối tháng. Sau đó họ sẽ trả lời,r ồi trả lại trong vòng một tuần. Tuy nhiên, chỉ có ít hơn 50% cửa hàng được hỏi trả lại đúng hạn. Mặc dù vậy chính phủ vẫn xem lại dữ liệu để chuẩn bị cho bản báo tạm – một trong ba bản sẽ được công bố trong tháng. Bản tạm này cung cấp một cái nhìn nhanh và đánh giá về sự thay đổi trong cách chi của người tiêu dùng sơ lược.
Khoảng 8.000 người bán lẻ khác thì được thăm dò trong nhiều ngày để có được một bức tranh toàn diện về hoạt động của các chủ hàng. Kết quả của bảng khảo sát sẽ được điều chỉnh và cho ra bản báo cáo thứ 2. Bốn tuần sau, Bản báo cáo Doanh số bán lẻ cuối cùng được công bố. Tổng cộng có khoảng 13.000 người được hỏi và có khoảng 75% trả lời.
Làm thế nào để hiểu được nó?
Có một sự mạo hiểm khi lệ thuộc quá nhiều vào Bản khảo sát sơ bộ bởi vì chúng dựa trên một số nhỏ lượng người được khảo sát. Để có được cái nhìn chính xác về thói quen tiêu dùng cần phải dựa vào doanh số bán ra trung bình trong ba tháng hoặc xem qua dữ liệu trong ba tháng qua rồi so sánh nó với cùng thời kỳ của năm trước.
Doanh số bán lẻ trừ ôtô là gì?
Khoảng 25% tổng số lượng tiền chi tiêu của người tiêu dùng là mua các sản phẩm giao thông và các sản phẩm liên quan. Số liệu này thay đổi rất mạnh từ tháng này sang tháng khác và nó bóp méo bức tranh doanh số bán lẻ. Để loại trừ nó, có một hàng riêng trong bản báo cáo, nơi mà chính phủ loại bỏ chi tiêu cho ôtô để mọi người có thể theo dõi rõ hơn xu thế tiêu dùng.
Nó ảnh hưởng như thế nào đối với đồng đô?
Thị trường tiền tệ nhận thấy bản báo cáo Doanh số bán lẻ như là một công cụ đòi hỏi sự tinh tế để phân tích. Trong khi, những người nước ngoài thì thích thấy được tinh thần mua sắm của người tiêu dùng Hoa Kỳ vì nó sẽ khẳng định việc sự chắc chắn của lãi suất (điều mà làm USD tăng giá), một sự chi tiêu quá mức sẽ báo hiệu sự rắc rối cho USD bởi vì hàng nhập khẩu quá nhiều. Một sự nhảy vọt trong việc nhập khẩu sẽ làm gia tăng nhu cầu đối với các đồng tiền nước ngoài để chi trả cho hàng nhập khẩu và điều này có thể làm tổn thương USD.
2. Chỉ số sản
xuất ISM
Bản
khảo sát chỉ số sản xuất ISM dựa trên những lời bình luận của những nhà quản lý
thu mua trong lĩnh vực sản xuất.
Nó là mẫu tin tức đầu tiên của nền kinh tế được công bố mỗi tháng và nó cung cấp những bằng chứng sớm nhất cho thấy nền kinh tế đã biểu hiện như thế nào trong 4 tuần trước.
Tại sao nó được xem xét?
Những người chi trả cho những thứ mua trong công ty của họ được gọi là Người quản lý thu mua. Các công ty sản xuất cần nguồn cung cấp để tạo ra sản phẩm. Các mẫu sản phẩm họ có thể đặt hàng bao gồm: cáp, hộp đóng hàng, và máy vi tính. Nếu có một sự gia tăng trong nhu cầu của các sản phẩm, Người quản lý thu mua sẽ phản ứng lại bằng cách gia tăng đơn hàng nguyên liệu sản xuất và những nguồn khác. Nếu doanh số của công việc sản xuất giảm, điều này sẽ liên kết với việc những ngưởi mua sẽ cắt giảm đơn hàng công nghiệp trở lại.
Do vị trí của họ, bạn có thể có được những thông tin rất đáng tin cậy về các hoạt động sản xuất bằng cách theo dõi điều mà những người quản lý thu mua đang làm. Đây là điều quan trọng vì các hàng hóa sản xuất chiếm khoảng một nữa nền kinh tế.
Nó được tính như thế nào?
Hằng tháng, ISM gửi qua bưu điện bảng câu hỏi đến khoảng 400 công ty thành viên khắp Hoa Kỳ, trải đều ra 20 lĩnh vực công nghiệp khác nhau. Những người quản lý thu mua của các công ty được hỏi để xác định xem liệu các hoạt động sản xuất đang tăng, giảm, hoặc không thay đổi trong các nhóm sau:
1. Đơn hàng mới: Các đơn hàng mới mua bởi các đại lý.
2. Sản lượng: Số lượng hàng hóa được sản xuất.
3. Việc làm: tình trạng thuê nhân công trong công ty.
4. Nguồn cung: Tốc độ cung cấp hàng của nhà cung cấp.
5. Dự trữ: Tỉ lệ thanh toán hàng dự trữ của nhà sản xuất.
6. Dự trữ của khách hàng: Các đại lý phỏng đoán mức độ dự trữ của khách hàng của họ.
7. Giá hàng hóa: Giá nhà sản xuẩt trả cho nhà cung cấp.
8. Đơn hàng tồn đọng: Các đơn hàng chưa được thực hiện.
9. Đơn hàng xuất khẩu mới: Tỷ lệ đơn hàng mới từ các quốc gia khác.
10. Nhập khẩu: Các nguyên liệu mà các đại lý mua từ các quốc gia khác.
Chỉ số ISM tự bản thân nó được sưu tập dựa trên các câu trả lời cho 5 câu hỏi đầu tiên của bảng câu hỏi. Chúng lần lượt chiếm tỉ trọng như sau: đơn hàng (30%), sản lượng sản xuất (25%), việc làm (20%), nguồn cung (15%), và dự trữ (10%). Năm câu hỏi cuối thì cung cấp thêm các tin tức cho thấy các hoạt động sản xuất đang được tiến hành như thế nào.
Đọc bản số liệu này như thế nào?
Trên 50: Cả hai các hoạt độg sản xuất và nền kinh tế đang mở rộng.
Dưới 50 nhưng trên 43: Các hoạt động sản xuất đang co lại, Manufacturing activity is contracting, lúc này toàn bộ nền kinh tế vẫn tăng trưởng.
Dưới 43: Cả hai các hoạt độg sản xuất và nền kinh tế rất có thể suy thoái. Kỳ vọng Fed sẽ cắt giảm lãi suất để cố gắng và kích thích nền kinh tế tăng trưởng.
Nó ảnh hưởng như thế nào đối với thị trường tiền tệ?
ISM trên 50 thì đồng đô tăng giá
ISM dưới 50 thì đồng đô rớt giá
3. Chỉ số giá sản xuất (PPI) đo lường mức độ lạm phát
Nó là mẫu tin tức đầu tiên của nền kinh tế được công bố mỗi tháng và nó cung cấp những bằng chứng sớm nhất cho thấy nền kinh tế đã biểu hiện như thế nào trong 4 tuần trước.
Tại sao nó được xem xét?
Những người chi trả cho những thứ mua trong công ty của họ được gọi là Người quản lý thu mua. Các công ty sản xuất cần nguồn cung cấp để tạo ra sản phẩm. Các mẫu sản phẩm họ có thể đặt hàng bao gồm: cáp, hộp đóng hàng, và máy vi tính. Nếu có một sự gia tăng trong nhu cầu của các sản phẩm, Người quản lý thu mua sẽ phản ứng lại bằng cách gia tăng đơn hàng nguyên liệu sản xuất và những nguồn khác. Nếu doanh số của công việc sản xuất giảm, điều này sẽ liên kết với việc những ngưởi mua sẽ cắt giảm đơn hàng công nghiệp trở lại.
Do vị trí của họ, bạn có thể có được những thông tin rất đáng tin cậy về các hoạt động sản xuất bằng cách theo dõi điều mà những người quản lý thu mua đang làm. Đây là điều quan trọng vì các hàng hóa sản xuất chiếm khoảng một nữa nền kinh tế.
Nó được tính như thế nào?
Hằng tháng, ISM gửi qua bưu điện bảng câu hỏi đến khoảng 400 công ty thành viên khắp Hoa Kỳ, trải đều ra 20 lĩnh vực công nghiệp khác nhau. Những người quản lý thu mua của các công ty được hỏi để xác định xem liệu các hoạt động sản xuất đang tăng, giảm, hoặc không thay đổi trong các nhóm sau:
1. Đơn hàng mới: Các đơn hàng mới mua bởi các đại lý.
2. Sản lượng: Số lượng hàng hóa được sản xuất.
3. Việc làm: tình trạng thuê nhân công trong công ty.
4. Nguồn cung: Tốc độ cung cấp hàng của nhà cung cấp.
5. Dự trữ: Tỉ lệ thanh toán hàng dự trữ của nhà sản xuất.
6. Dự trữ của khách hàng: Các đại lý phỏng đoán mức độ dự trữ của khách hàng của họ.
7. Giá hàng hóa: Giá nhà sản xuẩt trả cho nhà cung cấp.
8. Đơn hàng tồn đọng: Các đơn hàng chưa được thực hiện.
9. Đơn hàng xuất khẩu mới: Tỷ lệ đơn hàng mới từ các quốc gia khác.
10. Nhập khẩu: Các nguyên liệu mà các đại lý mua từ các quốc gia khác.
Chỉ số ISM tự bản thân nó được sưu tập dựa trên các câu trả lời cho 5 câu hỏi đầu tiên của bảng câu hỏi. Chúng lần lượt chiếm tỉ trọng như sau: đơn hàng (30%), sản lượng sản xuất (25%), việc làm (20%), nguồn cung (15%), và dự trữ (10%). Năm câu hỏi cuối thì cung cấp thêm các tin tức cho thấy các hoạt động sản xuất đang được tiến hành như thế nào.
Đọc bản số liệu này như thế nào?
Trên 50: Cả hai các hoạt độg sản xuất và nền kinh tế đang mở rộng.
Dưới 50 nhưng trên 43: Các hoạt động sản xuất đang co lại, Manufacturing activity is contracting, lúc này toàn bộ nền kinh tế vẫn tăng trưởng.
Dưới 43: Cả hai các hoạt độg sản xuất và nền kinh tế rất có thể suy thoái. Kỳ vọng Fed sẽ cắt giảm lãi suất để cố gắng và kích thích nền kinh tế tăng trưởng.
Nó ảnh hưởng như thế nào đối với thị trường tiền tệ?
ISM trên 50 thì đồng đô tăng giá
ISM dưới 50 thì đồng đô rớt giá
3. Chỉ số giá sản xuất (PPI) đo lường mức độ lạm phát
PPI là gì? Nó đo lường cái gì?
Chỉ số giá sản xuất (PPI) đo lường mức độ lạm phát trải qua bởi các nhà sản xuất. Số liệu này mô tả mức độ thay đổi giá cả trung bình trong rổ hàng hóa cố định được mua bởi nhà sản xuất. Một cách tổng thể, lạm phát cao dẫn đến lãi suất cao, điều này sẽ có xu hướng làm mạnh đồng tiền của quốc gia.
Nó nghe có vẻ giống CPI, vậy đâu là sự khác biệt?
PPI là một chỉ số của giá thương phẩm. Ngược lại, CPI đo lường cả giá của thương phẩm và dịch vụ - nhà, giao thông, y tế và những dịch vụ khác chiếm 50% của CPI. CPI cũng bao gồm hàng hóa nhập khẩu trong khi PPI thì không.
Một sự khác biệt giữa PPI và CPI là PPI đo lường giá trị của đồng vốn dành cho trang thiết bị trong kinh doanh.
“Rổ hàng hóa ” bao gồm những gì?
Các hàng hóa liên qua đến tiều dùng chiếm 75% biểu đồ tròn. Hàng hóa tiêu dùng, chủ yếu là xe hơi chiếm 40%. Thực phẩm chiếm 26% gồm : thịt, cá, sản phẩm liên quan đến bơ sữa, trái cây và rau quả. Danh mục năng lượng, chủ yếu là gas và dầu nhiên liệu chiếm thêm 9%. Danh mục trang thiết bị chiếm 25% gồm: ôtô và xe tải.
Các số liệu được đặt với nhau như thế nào ?
Các nhà kinh tế Bộ Lao động so sánh giá của nhiều món hàng – khoảng 3.450. Giá thì được lấy mẫu hàng tháng.
PPI lõi là gì?
Nhiều nhà kinh tế xem xét PPI trừ đi thực phẩm và năng lượng cái mà được gọi là PPI lõi.Vậy tại sao? Bởi vì giá thực phẩm và năng lượng thay đổi rất nhanh. Giá năng lượng có thể bị ảnh hưởng bởi thời tiết chẳn hạn như nếu bão gây ảnh hưởng đến các dàn khoan dầu thì sẽ anh hưởng đến sản lượng khai thác. Điều tương tự cũng có thể xảy ra đối với thực phẩm. Đó là lý do tại sao phải loại trừ chúng để thấy được xu thế lạm phát thật của PPI.
Các “nhà chuyên nghiệp” xem xét PPI như thế nào ?
Các “nhà chuyên nghiệp” xem xét PPI một cách chung chung và xem xét nhiều phương pháp:
• So sánh tháng gần đây nhất với hai đến ba tháng trước
• Xem xét sự thay đổi trung bình của chỉ số PPI được công bố trong sáu hoặc mười hai tháng trước.
• Xác định tỉ lệ lạm phát giữa các năm.
Điểm chính ở đây là không nên để ý quá nhiều vào bản báo cáo đơn độc. Tốt hơn là hãy xác định xu thế và liệu có một xu thế mới sắp xuất hiện không.
PPI ảnh hưởng như thế nào đối với USD?
Đồng đô có xu hướng mạnh lên khi tăng lãi suất ngắn hạn. Vì thế nếu Fed tăng lãi suất, thì USD tăng giá.
Nếu lạm phát cao, USD thường sẽ tăng vì điều này cho thấy Fed có lý do để tăng lãi suất.
4.
Retail Sales – Doanh số bán lẻ
Định nghĩa: doanh số bán lẻ đo lường tổng doanh số của ngành bán lẻ tại Mỹ
(không bao gồm doanh số ngành dịch vụ). số liệu này được tính toán trên đồng
Dollar Mỹ, không điều chỉnh khi lạm phát nhưng điều chỉnh theo thời điểm: mùa,
lễ, ngày giao dịch và những thời
điểm này khác nhau giữa các tháng trong năm.
Ý nghĩa: đây là chỉ số chính xác nhất trong số những chỉ số tiêu dùng. Chỉ số này chỉ ra ý nghĩa của những xu hướng giữa những nhóm nhà bán lẻ khác nhau. Những xu hướng này sẽ giúp chỉ ra những cơ hội đầu tư đặc biệt.
Việc giám sát doanh số bán lẻ (không bao gồm sản phẩm ôtô và xe tải) là rất quan trọng nhằm tránh những biến động bất ngờ của nền kinh tế.
Cơ quan phát hành: ban điều tra dân số của phòng thương mại
Thời điểm phát hành: khoảng 8:30 (ET) sáng ngày 12 hàng tháng (8h30 tối giờ Việt Nam). Dữ liệu của tháng trước đó.
Mật độ phát hành: Hàng tháng.
Xét duyệt: dữ liệu của 2 tháng trước đó được xem xét hàng tháng để tổng hợp ra những thông tin hoàn chỉnh hơn. Những nhân tố mới thay đổi theo thời gian sẽ được công bố vào tháng Hai. Việc xét duyệt này sẽ có ảnh hưởng tới dữ liệu của ít nhất 5 năm. Tầm quan trọng của chỉ số này là khá lớn.
Ý nghĩa: đây là chỉ số chính xác nhất trong số những chỉ số tiêu dùng. Chỉ số này chỉ ra ý nghĩa của những xu hướng giữa những nhóm nhà bán lẻ khác nhau. Những xu hướng này sẽ giúp chỉ ra những cơ hội đầu tư đặc biệt.
Việc giám sát doanh số bán lẻ (không bao gồm sản phẩm ôtô và xe tải) là rất quan trọng nhằm tránh những biến động bất ngờ của nền kinh tế.
Cơ quan phát hành: ban điều tra dân số của phòng thương mại
Thời điểm phát hành: khoảng 8:30 (ET) sáng ngày 12 hàng tháng (8h30 tối giờ Việt Nam). Dữ liệu của tháng trước đó.
Mật độ phát hành: Hàng tháng.
Xét duyệt: dữ liệu của 2 tháng trước đó được xem xét hàng tháng để tổng hợp ra những thông tin hoàn chỉnh hơn. Những nhân tố mới thay đổi theo thời gian sẽ được công bố vào tháng Hai. Việc xét duyệt này sẽ có ảnh hưởng tới dữ liệu của ít nhất 5 năm. Tầm quan trọng của chỉ số này là khá lớn.
5.
Chỉ
Số Bán Lẻ (Retail Sales)
Chỉ Số Bán Lẻ (Retail Sales) (1)
Retail Sales ( hay còn gọi là Advance Monthly Retail Sales Report) là thước đo tổng hoá đơn của các tiệm bán lẻ. Sự thay đổi trong chỉ số này rất quan trọng và được nhận định là một biểu thị kịp thời nhất về mức tiêu thụ của khách hàng.
News được Ban Thương Nghiệp Mĩ thông báo hàng tháng từ năm 1953 và chỉ vắng mặt trong vòng 2 năm kể từ tháng 2 năm 1970 đến tháng 2 năm 1972.
Mục đích chính cuả news này là cung cấp dấu hiệu ban đầu về tình hình bán hàng của các công ty bán lẻ và dịch vụ cung cấp thực phẩm. Nội dung của báo cáo là giá trị về tiền của các sản phẩm được bán ra, giai đoạn báo cáo, và số các điểm bán lẻ.
Các chỉ số bán lẻ, hay các chỉ số bán các mặt hàng có sức chịu đựng lâu dài hoặc ko lâu dài, thường được Ban Thương Nghiệp cục Thông Kê dân số báo cáo vào ngày 11 và 15 hàng tháng.
Ko giống báo cáo Sổ đỏ Johnson cũng về chỉ số bán lẻ nhưng được thông kê hàng tuần và chỉ khảo sát dựa trên 15 điểm bán lẻ, chuỗi thống kê của báo cáo này dược soạn dựa trên một loạt cơ sở kinh doanh xuyên suốt đất nước.
Báo cáo bao gồm các công ty bán lẻ và cung cấp dịch vụ ăn uống với một hoặc nhiều cơ sở mà cung cấp các hàng hoá và dịch vụ có liên quan tới nhau. Nhưng lại có nhược điểm là thực tế rất khó để xem lại.
Các chuyên gia thị trường thường tập trung vào chỉ số “ retail sales less autos”. Điều này là vì những người tham gia vào thị trường tài chính có thể dễ dàng nắm bắt được thói quen chi tiêu nổi bật của các khách hàng bằng cách loại bỏ yếu tố rất bấp bênh là “ auto sales” ( các mặt hàng như ôtô).
Một khía cạnh khác của news này mà xứng đáng được chú ý là lạm phát. Vì việc bán hàng thườngđược báo cáo bằng giá tiền hiện tại, những biến động trao đảo bất thường về mức giá có thể bóp méo bức tranh tổng thể về số lượng sản phẩm bán được.
Một ví dụ của tình huống này một sự biên đổi tăng vọt nhanh chóng giá xăng dầu, cũng giống hiện tượng đã được chứng kiến suốt thời kì chiến tranh Vịnh Ba Tư. Suốt thời gian đó, một khối lượng khổng lổ số mặt hàng bán tăng lên đã góp phần làm tăng giá trị tiền của các ga dịch vụ.
Chỉ Số Bán Lẻ (Retail Sales) (2)
News này còn thường xuyên được theo dõi sát sao và sử dụng một cách rộng rãi trong hệ thống chính phủ, các viện và các cộng đồng kinh tế.
Viện Phân tích Kinh tế sử dụng news này như một đầu vào để tính toán chỉ số GDP. Hội Đồng Dự trữ Liên Bang cũng sử dụng sự đánh giá này để đoán trước xu thế kinh tế. Hội đồng Cố Vấn Kinh tế cũng sử dụng news này để phân tích các chính sách kinh tế.
Các phương tiện thông tin thường viết phóng sự về báo cáo này và sử dụng những chỉ số được ước lượng trong báo cáo để phan tích kinh tế. Các nhà phân tích tài chính và các công ty nghiên cứu thị trường thường dùng các dữ liệu để phân tích xu thế của thị trường cũng như là để quyết định chiều hướng của kinh tế.
Các doanh nghiệp thường sử dụng bản thống kê này để tính toán xem họ đang hoạt động như thế nào và dự đoán những nhu cầu trong tương lai.
Nhiều yếu tố cho rằng The Advance Monthly Retail Sales Report là một trong những thước đo quan trọng nhất thể hiện độ mạnh yếu trong phạm vi khu vực khách hàng và bao gồm 10 yếu tố lớn.
Được chú ý nhất là những phần sau : các nhà buôn máy móc tự động ( chiếm 25%); thực phẩm (17%), các mặt hàng chung chung (13%), và các trạm dịch vụ ( 6%) ( ở nước ngoài thường có các cây xăng trên đường cao tốc.
Đi cùng các cây xăng này là những tiệm đồ ăn nhanh để mọi người có thể nghỉ ngơi và ăn uống thường được gọi là các trạm dịch vụ). Các nhà buôn đồ tự động hoá thường bán các phương tiện có động cơ motor ( như ôtô, xe máy ) …. mang giá trị cao và chỉ có vậy thội đã một tay làm ảnh hưởng hết toàn bộ chỉ số bán lẻ.
Vì vậy, tổng chỉ số của retail sales cũng được giới thiệu mà ko có yếu tố này, để giúp người phân tích có một cái nhìn cân bằng hơn về sức tăng trưởng của retail sales. Chỉ số chính là chỉ số retail sales less auto mới được kể ở trên. Báo cáo này được coi là một kim chỉ nam kịp thời về yếu tố chi tiêu của khách hàng trong một phạm vi rất rông.
Nếu tổng số của retail sales lên dù chỉ một phần thôi cũng chỉ ra sự phát triển kinh tế và niềm tin của khách hàng vào thị trường. Còn một chỉ số xấu thể hiện sự tụt giảm trong số lượng mặt hàng bán ra và mức chi tiêu cũng giảm bớt. Xin nhắc lại một lần nữa là việc theo dõi chỉ số retail sales less auto là rất quan trọng vì chỉ số này sẽ thể hiện một bức tranh chân thật hơn .
Xem xét một vài tháng dữ liệu Retail Sales cũng là một điều rất hữu dụng. Người ta thường đổ tội cho những điều chỉnh theo mùa ko hoàn hảo khi một tháng đặc biệt kém được nối tiếp sau đó bằng một tháng tốt.
Dữ liệu của một đường chuyển động trung bình ( thường gọi là moving average, MA) trong vòng 3 tháng thường vẽ lên một bức tranh rõ ràng hơn.
Những người nắm giữ trái phiếu thường thích chỉ số này hạ vì sự yếu kém ấy thể hiện kinh tế đi chậm lại. Một nền kinh tế mạnh thường mang theo nỗi sợ về lạm phát, điều thường đặt gánh nặng lớn lên giá
của trái phiếu.
Ý kiến cá nhân : Là một news trader ( người trade theo news tại thời điểm ra news _ bạn có thể xem ở đây để biết rõ chi tiết hơn) mình nhận thấy tại thời điểm ra news retail sales ko phải là một news tạo nhiều đột phá.
Như vậy nếu bạn cũng là một news trader thì retail sales ko phải là một tin thích hợp cho bạn. Nhưng nếu bạn sử dụng retail sales để phân tích kinh tế như một người trading theo phương pháp cơ bản thật sự thì đó mới thực sự là khôn ngoan vì retail sales có mức độ ảnh hưởng sâu và rộng, mang lại những phản ứng lâu dài chứ ko phải là nhất thời!
Theo thời gian và kinh nghiệm rồi bạn sẽ nhận thấy được điều này.
6.
Producer
Price Index (PPI) – Chỉ số giá sản xuất
Định nghĩa: PPI đo lường mức giá trung bình của một rổ hàng hoá và tiền vốn
cố định ở mức giá bán sỉ. Có 3 dạng của PPI đó là : công nghiệp , hàng hoá và
quá trình sản xuất.
Ý nghĩa: việc kiểm soát chỉ số PPI (không bao gồm giá thực phẩm và năng lượng) được xem là rất quan trọng nhằm ổn định mức giá hàng tháng. Nó còn được gọi là core PPI, cho ta một bức tranh rõ ràng hơn về xu hướng lạm phát cơ bản.
Sự thay đổi của core PPI được coi là 1 dấu hiệu của lạm phát. Áp lực của lạm phát được sản sinh khi core PPI tăng cao trên mức dự kiến.
Cơ quan phát hành: Cục Thống kê Lao động thuộc Phòng Lao động Hoa Kỳ.
Thời điểm phát hành: 8:30 (ET) sáng ngày 11 hàng tháng (8h30 tối giờ Việt Nam). Dữ liệu của tháng trước đó.
Mật độ phát hành: Hàng tháng
Xét duyệt: dữ liệu của 3 tháng trước đó được xem xét hàng tháng để tổng hợp ra những thông tin hoàn chỉnh hơn. Những nhân tố mới thay đổi theo thời gian sẽ được công bố vào tháng Hai. Việc xét duyệt này sẽ có ảnh hưởng tới ít nhất dữ liệu của 5 năm. Tầm quan trọng là không đáng kể.
Ý nghĩa: việc kiểm soát chỉ số PPI (không bao gồm giá thực phẩm và năng lượng) được xem là rất quan trọng nhằm ổn định mức giá hàng tháng. Nó còn được gọi là core PPI, cho ta một bức tranh rõ ràng hơn về xu hướng lạm phát cơ bản.
Sự thay đổi của core PPI được coi là 1 dấu hiệu của lạm phát. Áp lực của lạm phát được sản sinh khi core PPI tăng cao trên mức dự kiến.
Cơ quan phát hành: Cục Thống kê Lao động thuộc Phòng Lao động Hoa Kỳ.
Thời điểm phát hành: 8:30 (ET) sáng ngày 11 hàng tháng (8h30 tối giờ Việt Nam). Dữ liệu của tháng trước đó.
Mật độ phát hành: Hàng tháng
Xét duyệt: dữ liệu của 3 tháng trước đó được xem xét hàng tháng để tổng hợp ra những thông tin hoàn chỉnh hơn. Những nhân tố mới thay đổi theo thời gian sẽ được công bố vào tháng Hai. Việc xét duyệt này sẽ có ảnh hưởng tới ít nhất dữ liệu của 5 năm. Tầm quan trọng là không đáng kể.
7.
Personal Income and Consumption – Thu nhập và
tiêu dùng cá nhân
Định nghĩa: thu nhập cá nhân ở đây chỉ thu nhập của hộ gia đình có từ tất cả các nguồn khác nhau như: tiền lương, tiền từ hoạt động kinh doanh, đầu tư và kể cả tiền chuyển khoản.
Tiêu dùng cá nhân được phân ra thành tiêu dùng cho các sản phẩm thiết yếu, không thiết yếu và dịch vụ.
Ý nghĩa: thu nhập là yếu tố quan trọng quyết định việc tiêu dùng (ở Mỹ, cứ mỗi Dollar được làm ra thì sẽ có 95 cent được tiêu dùng) và tổng giá trị tiêu dùng chiếm khoảng 2/3 nền kinh tế. Gia tăng tiêu dùng sẽ kích thích tăng trưởng và tạo thêm lợi nhuận cho thị trường chứng khoán.
Cơ quan phát hành: Cục phân tích kinh tế thuộc phòng Thương mại
Thời điểm phát hành: 8:30 (ET) sáng ngày làm việc đầu tiên của tháng (8h30 tối giờ Việt Nam). Lấy dữ liệu của tháng trước.
Mật độ phát hành: Hàng tháng
Xét duyệt: dữ liệu của 3 tháng trước đó được xem xét hàng tháng để tổng hợp ra những thông tin hoàn chỉnh hơn. Những nhân tố mới thay đổi theo thời gian sẽ được công bố vào tháng Sáu. Việc xét duyệt này sẽ có ảnh hưởng tới ít nhất dữ liệu của 5 năm. Tầm quan trọng là vừa phải.
Định nghĩa: thu nhập cá nhân ở đây chỉ thu nhập của hộ gia đình có từ tất cả các nguồn khác nhau như: tiền lương, tiền từ hoạt động kinh doanh, đầu tư và kể cả tiền chuyển khoản.
Tiêu dùng cá nhân được phân ra thành tiêu dùng cho các sản phẩm thiết yếu, không thiết yếu và dịch vụ.
Ý nghĩa: thu nhập là yếu tố quan trọng quyết định việc tiêu dùng (ở Mỹ, cứ mỗi Dollar được làm ra thì sẽ có 95 cent được tiêu dùng) và tổng giá trị tiêu dùng chiếm khoảng 2/3 nền kinh tế. Gia tăng tiêu dùng sẽ kích thích tăng trưởng và tạo thêm lợi nhuận cho thị trường chứng khoán.
Cơ quan phát hành: Cục phân tích kinh tế thuộc phòng Thương mại
Thời điểm phát hành: 8:30 (ET) sáng ngày làm việc đầu tiên của tháng (8h30 tối giờ Việt Nam). Lấy dữ liệu của tháng trước.
Mật độ phát hành: Hàng tháng
Xét duyệt: dữ liệu của 3 tháng trước đó được xem xét hàng tháng để tổng hợp ra những thông tin hoàn chỉnh hơn. Những nhân tố mới thay đổi theo thời gian sẽ được công bố vào tháng Sáu. Việc xét duyệt này sẽ có ảnh hưởng tới ít nhất dữ liệu của 5 năm. Tầm quan trọng là vừa phải.
8.
Chỉ số New Home Sales – Doanh số bán nhà mới
Định nghĩa: được xem như là một chỉ số thống kê số lượng nhà vừa bán ra cho
các gia đình mới. chỉ số này dựa trên kết quả phỏng vấn 10,000 nhà thầu hoặc
các chủ đầu tư của 15,000 dự án bất động sản được lựa chọn. chỉ số sẽ đo lường
số lượng căn hộ mới được xây dựng so với doanh số bán cam kết trong 1 tháng.
Ý nghĩa: chỉ số này xem xét các số liệu lạc quan về chi tiêu cho việc mua nhà và các mặt hàng có liên quan cũng như chi phí tiêu dùng nói chung của người dân. Tuy nhiên, các nhà đầu tư lại thích sử dụng các báo cáo doanh thu căn hộ đã có sẵn hơn vì nó phản ánh tới gần 84% số lượng nhà được bán và thường được công bố vào đầu tháng.
Cơ quan phát hành: Cục thống kê dân số của Bộ Thương mại
Thời điểm phát hành: khoảng 10:00 sáng ngày làm việc cuối cùng của tháng (10h tối giờ Việt Nam). Dữ liệu của tháng trước.
Mật độ phát hành: Hàng tháng
Ý nghĩa: chỉ số này xem xét các số liệu lạc quan về chi tiêu cho việc mua nhà và các mặt hàng có liên quan cũng như chi phí tiêu dùng nói chung của người dân. Tuy nhiên, các nhà đầu tư lại thích sử dụng các báo cáo doanh thu căn hộ đã có sẵn hơn vì nó phản ánh tới gần 84% số lượng nhà được bán và thường được công bố vào đầu tháng.
Cơ quan phát hành: Cục thống kê dân số của Bộ Thương mại
Thời điểm phát hành: khoảng 10:00 sáng ngày làm việc cuối cùng của tháng (10h tối giờ Việt Nam). Dữ liệu của tháng trước.
Mật độ phát hành: Hàng tháng
Xét duyệt: dữ liệu được xét duyệt hàng tháng so với dữ liệu tháng trước.
9. chỉ số ISM
Services Index – Chỉ số dịch vụ ISM
Định nghĩa: chỉ số này cũng
được xem là chỉ số ISM không bao gồm sản xuất. ISM service dựa trên kết quả
khảo sát 370 chuyên viên phụ trách mua hàng trong lĩnh vực công nghiệp bao gồm:
tài chính, bảo hiểm, bất động sản, truyền thông và các ngành phục vụ công cộng.
chỉ số này báo cáo hoạt động kinh doanh của khu vực dịch vụ.
Ý nghĩa: nếu chỉ số có giá trị trên 50% tức là các thành phần không thuộc khu vực sản xuất vật chất của nền kinh tế đang phát triển tốt, còn nếu dưới 50% thì các ngành này đang có dấu hiệu suy giảm.
Chỉ số này sẽ thay đổi vào các thời kỳ khác nhau trong năm, sự khác biệt xuất hiện trong các ngày lễ hay do có sự thay đổi thể chế.
ISM service chỉ vừa mới ra đời vào năm 1997 nên chưa được các nhà đầu tư quan tâm nhiều bằng chỉ số sản xuất ISM đã xuất hiện từ những năm 40.
Cơ quan phát hành: Viện Quản trị Cung cấp, nguyên là NAPM (Hiệp hội các Giám đốc phụ trách thu mua Quốc gia)
Thời điểm phát hành: 10:00 sáng (10h tối giờ Việt Nam)ngày làm việc thứ ba vủa tháng. Dữ liệu của tháng trước.
Mật độ phát hành: Hàng tháng
Xét duyệt: dữ liệu này không được xét duyệt.
Ý nghĩa: nếu chỉ số có giá trị trên 50% tức là các thành phần không thuộc khu vực sản xuất vật chất của nền kinh tế đang phát triển tốt, còn nếu dưới 50% thì các ngành này đang có dấu hiệu suy giảm.
Chỉ số này sẽ thay đổi vào các thời kỳ khác nhau trong năm, sự khác biệt xuất hiện trong các ngày lễ hay do có sự thay đổi thể chế.
ISM service chỉ vừa mới ra đời vào năm 1997 nên chưa được các nhà đầu tư quan tâm nhiều bằng chỉ số sản xuất ISM đã xuất hiện từ những năm 40.
Cơ quan phát hành: Viện Quản trị Cung cấp, nguyên là NAPM (Hiệp hội các Giám đốc phụ trách thu mua Quốc gia)
Thời điểm phát hành: 10:00 sáng (10h tối giờ Việt Nam)ngày làm việc thứ ba vủa tháng. Dữ liệu của tháng trước.
Mật độ phát hành: Hàng tháng
Xét duyệt: dữ liệu này không được xét duyệt.
10.
chỉ số . ISM Manufacturing Index – Chỉ số sản xuất ISM
Định nghĩa: Chỉ số sản xuất
ISM được xác đinh dựa trên bản khảo sát 300 giám đốc phụ trách mua hàng của các
công ty trên toàn quốc, đại diện cho 20 ngành công nghiệp có liên quan tới hoạt
động sản xuất. nó bao gồm những chỉ báo liên quan đến các đơn hàng mới, sản
xuất, việc làm, tồn kho, giao nhận, giá cả và đơn hàng xuất nhập khẩu.
Ý nghĩa: chỉ số này được xem là dẫn đầu trong số tất cả các chỉ số sản xuất. nếu chỉ số này đạt giá trị trên 50% sẽ được coi là có dấu hiệu của sự phát triển mở rộng trong khu vực sản xuất và sự vững mạnh của nền kinh tế, trong khi một giá trị dưới 50 sẽ được liên hệ tới sự giảm sút hoặc thu hẹp.
Thêm vào đó, các thành phần thay thế khác của chỉ số cũng chứa đựng nhiều thông tin hữu ích về hoạt động sản xuất. các bộ phận của ngành sản xuất thì liên quan đến sản xuất công nghiệp, những đơn đặt hàng mới có liên quan tới những đơn đặt hàng lâu dài, việc làm sẽ liên quan tới bảng lương, giá thành sẽ liên quan tới giá sản xuất, đơn hàng xuất khẩu liên quan tới xuất khẩu mậu dịch, còn đơn hàng nhập khẩu liên quan tới nhập khẩu mậu dịch.
Chỉ số này sẽ điều chỉnh khác nhau tuỳ thuộc vào từng thời kỳ nhất định trong năm, sự khác biệt đó rơi vào các kỳ nghỉ lễ hoặc do sự thay đổi thể chế.
Cơ quan phát hành: Viện Quản trị Cung cấp, nguyên là NAPM (Hiệp hội các Giám đốc phụ trách thu mua Quốc gia)
Thời điểm phát hành: 10:00 sáng (ET) của ngày làm việc đầu tiên trong tháng. Dữ liệu của tháng trước đó.
Mật độ phát hành: Hàng tháng
Xét duyệt: dữ liệu không được xét duyệt
Ý nghĩa: chỉ số này được xem là dẫn đầu trong số tất cả các chỉ số sản xuất. nếu chỉ số này đạt giá trị trên 50% sẽ được coi là có dấu hiệu của sự phát triển mở rộng trong khu vực sản xuất và sự vững mạnh của nền kinh tế, trong khi một giá trị dưới 50 sẽ được liên hệ tới sự giảm sút hoặc thu hẹp.
Thêm vào đó, các thành phần thay thế khác của chỉ số cũng chứa đựng nhiều thông tin hữu ích về hoạt động sản xuất. các bộ phận của ngành sản xuất thì liên quan đến sản xuất công nghiệp, những đơn đặt hàng mới có liên quan tới những đơn đặt hàng lâu dài, việc làm sẽ liên quan tới bảng lương, giá thành sẽ liên quan tới giá sản xuất, đơn hàng xuất khẩu liên quan tới xuất khẩu mậu dịch, còn đơn hàng nhập khẩu liên quan tới nhập khẩu mậu dịch.
Chỉ số này sẽ điều chỉnh khác nhau tuỳ thuộc vào từng thời kỳ nhất định trong năm, sự khác biệt đó rơi vào các kỳ nghỉ lễ hoặc do sự thay đổi thể chế.
Cơ quan phát hành: Viện Quản trị Cung cấp, nguyên là NAPM (Hiệp hội các Giám đốc phụ trách thu mua Quốc gia)
Thời điểm phát hành: 10:00 sáng (ET) của ngày làm việc đầu tiên trong tháng. Dữ liệu của tháng trước đó.
Mật độ phát hành: Hàng tháng
Xét duyệt: dữ liệu không được xét duyệt
11.
Chỉ số . Initial Claims
Định nghĩa: một chỉ số của
chính phủ nhằm theo dõi số lượng người than phiền để xác định tình hình bảo
hiểm thất nghiệp.
Ý nghĩa: các nhà đầu tư sử dụng đường trung bình trượt 4 tuần của chỉ số này để dự đoán xu hướng của thị trường lao động. Sự dịch chuyển của 30,000 (hoặc hơn) than phiền báo hiệu tình hình tăng trưởng việc làm ổn định. Nên nhớ rằng số lượng than phiền càng thấp thì thị trường việc làm càng vững mạnh và ngược lại.
Cơ quan phát hành: ban điều phối đào tạo và việc làm của Bộ Lao động.
Thời điểm phát hành: 8:30 sáng (8h30 tối giờ Việt Nam), thứ năm. Dữ liệu thu thập trong 1 tuần và kết thúc trước ngày thứ bảy
Mật độ phát hành: hàng tuần
Xét duyệt: đối chiếu số liệu với số liệu tuần trước được công bố vào thứ năm hàng tuần. Tầm quan trọng ở mức độ vừa phải.
Ý nghĩa: các nhà đầu tư sử dụng đường trung bình trượt 4 tuần của chỉ số này để dự đoán xu hướng của thị trường lao động. Sự dịch chuyển của 30,000 (hoặc hơn) than phiền báo hiệu tình hình tăng trưởng việc làm ổn định. Nên nhớ rằng số lượng than phiền càng thấp thì thị trường việc làm càng vững mạnh và ngược lại.
Cơ quan phát hành: ban điều phối đào tạo và việc làm của Bộ Lao động.
Thời điểm phát hành: 8:30 sáng (8h30 tối giờ Việt Nam), thứ năm. Dữ liệu thu thập trong 1 tuần và kết thúc trước ngày thứ bảy
Mật độ phát hành: hàng tuần
Xét duyệt: đối chiếu số liệu với số liệu tuần trước được công bố vào thứ năm hàng tuần. Tầm quan trọng ở mức độ vừa phải.
12.
chỉ số Industrial Production and Capacity Utilization
Định nghĩa: chỉ số sản xuất
công nghiệp là một chuỗi đo lường trọng lượng sản phẩm của các ngành sản xuật
vật chất, khai khóang và ngành công nghiệp phục vụ công cộng. Capacity
utilization đo lường tỉ lệ giữa năng suất sử dụng đất và công cụ lao động được
dùng trong các ngành công nghiệp nói trên.
Ý nghĩa: trong một nển kinh tế, khu vực công nghiệp chiếm khoảng 25% GDP, vì thế GDP thay đổi chủ yếu do tác động của khu vực công nghiệp. Do đó, sự biến đổi chỉ số sản xuất công nghiệp cung cấp những thông tin bổ ích về tình hình tăng trưởng hiện tại của GDP.
Các nhà đầu tư sử dụng chỉ số này như một chỉ báo lạm phát. Khi chỉ báo này tăng cao trên 85% tức là nguy cơ lạm phát xuất hiện.
Cơ quan phát hành: Uỷ ban điều hành Hệ thống dự trữ Liên bang
Thời điểm phát hành: vào khoảng 9:15 sáng ngày 15 hàng tháng (9h15 tối giờ Việt Nam). Dữ liệu thu thập của tháng trước đó.
Mật độ phát hành: hàng tháng
Xét duyệt: dữ liệu được xét duyệt hàng tháng so với 3 tháng trước đó nhằm giúp phản ánh thông tin hoàn chỉnh hơn. Các nhân tố điều chỉnh theo mùa sẽ được công bố vào tháng 12. Sự xét duyệt này ảnh hưởng tới dữ liệu của ít nhất 3 năm và tầm quan trọng là vừa phải.
Ý nghĩa: trong một nển kinh tế, khu vực công nghiệp chiếm khoảng 25% GDP, vì thế GDP thay đổi chủ yếu do tác động của khu vực công nghiệp. Do đó, sự biến đổi chỉ số sản xuất công nghiệp cung cấp những thông tin bổ ích về tình hình tăng trưởng hiện tại của GDP.
Các nhà đầu tư sử dụng chỉ số này như một chỉ báo lạm phát. Khi chỉ báo này tăng cao trên 85% tức là nguy cơ lạm phát xuất hiện.
Cơ quan phát hành: Uỷ ban điều hành Hệ thống dự trữ Liên bang
Thời điểm phát hành: vào khoảng 9:15 sáng ngày 15 hàng tháng (9h15 tối giờ Việt Nam). Dữ liệu thu thập của tháng trước đó.
Mật độ phát hành: hàng tháng
Xét duyệt: dữ liệu được xét duyệt hàng tháng so với 3 tháng trước đó nhằm giúp phản ánh thông tin hoàn chỉnh hơn. Các nhân tố điều chỉnh theo mùa sẽ được công bố vào tháng 12. Sự xét duyệt này ảnh hưởng tới dữ liệu của ít nhất 3 năm và tầm quan trọng là vừa phải.
13. chỉ số Philadelphia Fed
Định nghĩa: chỉ số sản xuất vùng tổng hợp kết quả của các bang Pennsylvania, New Jersey và Delaware. Những vùng này đại diện cho khu vực sản xuất hỗn hợp của quốc gia.
Ý nghĩa: nếu chỉ số có giá trị đạt trên 50% tức là khu vực sản xuất đang mở rộng, ngược lại nếu dưới 50% thì sản xuất đang thu hẹp.
Nếu kết hợp chỉ số này với chỉ số Chicago Purchasing Manager sẽ hỗ trợ cho việc dự báo chính xác hơn kết quả của chỉ số ISM- là chỉ số dẫn đầu trong các chỉ số đánh giá tổng quan hoạt động kinh tế.
Cơ quan phát hành: ngân hàng dự trữ bang Philadelphia
Thời điểm phát hành: 10:00 (ET) sáng ngày thứ năm thứ ba của tháng (10h tối giờ Việt Nam). Dữ liệu được lấy của tháng hiện tại.
Mật độ phát hành: Hàng tháng
Xét duyệt: những nhân tố thay đổi theo thời gian mới sẽ được công bố vào đầu năm. Tầm quan trọng ở mức vừa phải.
14.
Chỉ số . Housing Starts and Building Permits – Bắt đầu xây
nhà và giấy phépcông trình
Định nghĩa: Là số lượng nhà ở
được xây dựng hằng tháng.
Ý nghĩa: Dùng để dự đóan sự thay đổi của GDP. Trong khi đầu tư nhà ở chiếm 4% GDP, tính không ổn định của nó chiếm phần nhiều hơn trong sự thay đổi GDP trong thời gian tương đối ngắn.
Nguồn: Bộ phận tính toán của Bộ thương mại
Thời điểm phát hành: khỏang ngày 16 của tháng, lúc 8h30 sáng (8h30 tối giờ Việt Nam). Dữ liệu lấy từ tháng trước.
Mật độ: hàng tháng
Xét duyệt: Dữ liệu được xét duyệt hàng tháng lầy từ 2 tháng trước đó để kết hợp thông tin chặt chẽ hơn. Những yếu tố mới thay đổi theo mùa được giới thiệu trong thág 2 với những thông tin có được từ tháng 1. Nó có hiệu lực ít nhất 3 năm, và không quan trọng lắm.
Ý nghĩa: Dùng để dự đóan sự thay đổi của GDP. Trong khi đầu tư nhà ở chiếm 4% GDP, tính không ổn định của nó chiếm phần nhiều hơn trong sự thay đổi GDP trong thời gian tương đối ngắn.
Nguồn: Bộ phận tính toán của Bộ thương mại
Thời điểm phát hành: khỏang ngày 16 của tháng, lúc 8h30 sáng (8h30 tối giờ Việt Nam). Dữ liệu lấy từ tháng trước.
Mật độ: hàng tháng
Xét duyệt: Dữ liệu được xét duyệt hàng tháng lầy từ 2 tháng trước đó để kết hợp thông tin chặt chẽ hơn. Những yếu tố mới thay đổi theo mùa được giới thiệu trong thág 2 với những thông tin có được từ tháng 1. Nó có hiệu lực ít nhất 3 năm, và không quan trọng lắm.
15.
Chỉ số Gross Domestic Product (GDP) – Tổng sản lượng nội địa
Định nghĩa: GDP tính toán giá
trị đồng dollar của tất cả các sản phẩm và dịch vụ được sản xuất trong biên
giới Liên bang Mỹ, bất chấp các sản phẩm và dịch vụ thuộc sở hữu của ai hay
quốc tịch của người lao động sản xuất ra hàng hóa đó.
Số liệu cho cả đồng tiền thực và ảo. Nhà đầu tư luôn theo dõi tỉ lệ tăng trưởng thật vì nó điều chỉnh mức độ lạm phát.
Ý nghĩa: Đây là thước đo nền kinh tế tốt nhất. GDP tăng trưởng tốt là từ 2% – 2.5% (khi tỉ lệ thất nghiệp trong khoản 5.5% – 6.0%) Chuyển sang khả năng hợp tác kiếm tiền, đó là dấu hiệu tốt cho thị trường chứng khoán.
Mức tăng trưởng GDP cao làm đẩy nhanh tốc độ lạm phát, trong khi mức tăng GDP thấp là biểu hiện của một nền kinh tế yếu kém.
Cơ quan phát hành: Cục phân tích kinh tế, Bộ Thương mại Mỹ
Thời điểm phát hành: tuần thứ 3 hoặc thứ 4 trong tháng của quý được ưu tiên, với những xét duyệt từ tháng 2 và 3 trong quý.
Mật độ: theo quý
Xét duyệt: Những đánh giá được đưa ra trong tháng thứ 2 và thứ 3 của quý dựa trên những thông tin hoàn chỉnh. Dữ liệu chuẩn và những yếu tố mới thay đổi theo mùa được giơi thiệu trong tháng 7 với dữ liệu của quý 2. Nó có hiệu lực nhất 3 năm và cũng khá quan trọng.
Số liệu cho cả đồng tiền thực và ảo. Nhà đầu tư luôn theo dõi tỉ lệ tăng trưởng thật vì nó điều chỉnh mức độ lạm phát.
Ý nghĩa: Đây là thước đo nền kinh tế tốt nhất. GDP tăng trưởng tốt là từ 2% – 2.5% (khi tỉ lệ thất nghiệp trong khoản 5.5% – 6.0%) Chuyển sang khả năng hợp tác kiếm tiền, đó là dấu hiệu tốt cho thị trường chứng khoán.
Mức tăng trưởng GDP cao làm đẩy nhanh tốc độ lạm phát, trong khi mức tăng GDP thấp là biểu hiện của một nền kinh tế yếu kém.
Cơ quan phát hành: Cục phân tích kinh tế, Bộ Thương mại Mỹ
Thời điểm phát hành: tuần thứ 3 hoặc thứ 4 trong tháng của quý được ưu tiên, với những xét duyệt từ tháng 2 và 3 trong quý.
Mật độ: theo quý
Xét duyệt: Những đánh giá được đưa ra trong tháng thứ 2 và thứ 3 của quý dựa trên những thông tin hoàn chỉnh. Dữ liệu chuẩn và những yếu tố mới thay đổi theo mùa được giơi thiệu trong tháng 7 với dữ liệu của quý 2. Nó có hiệu lực nhất 3 năm và cũng khá quan trọng.
16.
chỉ số Industrial Production and Capacity Utilization
Định nghĩa: chỉ số sản xuất
công nghiệp là một chuỗi đo lường trọng lượng sản phẩm của các ngành sản xuật
vật chất, khai khóang và ngành công nghiệp phục vụ công cộng. Capacity
utilization đo lường tỉ lệ giữa năng suất sử dụng đất và công cụ lao động được
dùng trong các ngành công nghiệp nói trên.
Ý nghĩa: trong một nển kinh tế, khu vực công nghiệp chiếm khoảng 25% GDP, vì thế GDP thay đổi chủ yếu do tác động của khu vực công nghiệp. Do đó, sự biến đổi chỉ số sản xuất công nghiệp cung cấp những thông tin bổ ích về tình hình tăng trưởng hiện tại của GDP.
Các nhà đầu tư sử dụng chỉ số này như một chỉ báo lạm phát. Khi chỉ báo này tăng cao trên 85% tức là nguy cơ lạm phát xuất hiện.
Cơ quan phát hành: Uỷ ban điều hành Hệ thống dự trữ Liên bang
Thời điểm phát hành: vào khoảng 9:15 sáng ngày 15 hàng tháng (9h15 tối giờ Việt Nam). Dữ liệu thu thập của tháng trước đó.
Mật độ phát hành: hàng tháng
Xét duyệt: dữ liệu được xét duyệt hàng tháng so với 3 tháng trước đó nhằm giúp phản ánh thông tin hoàn chỉnh hơn. Các nhân tố điều chỉnh theo mùa sẽ được công bố vào tháng 12. Sự xét duyệt này ảnh hưởng tới dữ liệu của ít nhất 3 năm và tầm quan trọng là vừa phải.
Ý nghĩa: trong một nển kinh tế, khu vực công nghiệp chiếm khoảng 25% GDP, vì thế GDP thay đổi chủ yếu do tác động của khu vực công nghiệp. Do đó, sự biến đổi chỉ số sản xuất công nghiệp cung cấp những thông tin bổ ích về tình hình tăng trưởng hiện tại của GDP.
Các nhà đầu tư sử dụng chỉ số này như một chỉ báo lạm phát. Khi chỉ báo này tăng cao trên 85% tức là nguy cơ lạm phát xuất hiện.
Cơ quan phát hành: Uỷ ban điều hành Hệ thống dự trữ Liên bang
Thời điểm phát hành: vào khoảng 9:15 sáng ngày 15 hàng tháng (9h15 tối giờ Việt Nam). Dữ liệu thu thập của tháng trước đó.
Mật độ phát hành: hàng tháng
Xét duyệt: dữ liệu được xét duyệt hàng tháng so với 3 tháng trước đó nhằm giúp phản ánh thông tin hoàn chỉnh hơn. Các nhân tố điều chỉnh theo mùa sẽ được công bố vào tháng 12. Sự xét duyệt này ảnh hưởng tới dữ liệu của ít nhất 3 năm và tầm quan trọng là vừa phải.
17.
Chỉ số Existing Home Sales – Doanh số bán nhà sẵn có
Định nghĩa: Báo cáo này tính
toán tỉ lệ bán nhà không sở hữu hoàn toàn. Nó được xem như là chỉ số hoạt động
trong lĩnh vực nhà ở.
Ý nghĩa: Nó cung cấp tiêu chuẩn đánh giá không chỉ cho nhu cầu nhà ở mà còn là bước chuyển kinh tế. Mọi người phải có khả năng tài chính vững vàng khi mua một ngôi nhà.
Nguồn: Hiệp hội bất động sản quốc gia
Thời điểm phát hành: 10h sáng (10h tối giờ Việt Nam) ngày 25 hàng tháng (hoặc ngày giao dịch đầu tiên sau đó). Dữ liệu lấy từ tháng trước.
Mật độ: hàng tháng
Xét duyệt: dữ liệu được xét duyệt hàng tháng cho tháng trước đó. Những xét duyệt đó có thể là đối tượng cho những thay đổi quan trọng. Cũng có kiểm tra hằng năm cho 3 năm trước đó. Mốc chuẩn là 10 năm.
Ý nghĩa: Nó cung cấp tiêu chuẩn đánh giá không chỉ cho nhu cầu nhà ở mà còn là bước chuyển kinh tế. Mọi người phải có khả năng tài chính vững vàng khi mua một ngôi nhà.
Nguồn: Hiệp hội bất động sản quốc gia
Thời điểm phát hành: 10h sáng (10h tối giờ Việt Nam) ngày 25 hàng tháng (hoặc ngày giao dịch đầu tiên sau đó). Dữ liệu lấy từ tháng trước.
Mật độ: hàng tháng
Xét duyệt: dữ liệu được xét duyệt hàng tháng cho tháng trước đó. Những xét duyệt đó có thể là đối tượng cho những thay đổi quan trọng. Cũng có kiểm tra hằng năm cho 3 năm trước đó. Mốc chuẩn là 10 năm.
18.
Employment Situation – Tình trạng việc làm
Định nghĩa: Báo cáo này liệt
kê ra danh sách những công việc không phải là nông nghiệp và cơ quan chính phủ.
Tỉ lệ thất nghiệp, trung bình mỗi giờ và số tiền kiếm được mỗi tuần và thời
gian trung bình tuần làm việc cũng được liệt kê trong báo cáo này. Số liệu này
gần nhất với những phân tích kinh tế vì mốc thời gian, tính chính xác và tầm
quan trọng của nó như là một chỉ số trong hoạt động kinh tế. Vì vậy, nó đóng
một vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến hoạt động của thị trường tài
chính trong suốt tháng.
Ý nghĩa : Đây là chỉ số trùng khớp đánh giá sự phát triển kinh tế, việc làm càng tăng nhiều thì tăng trưởng kinh tế càng tăng nhanh.
Tỉ lệ thất nghiệp tăng sẽ đi kèm với nền kinh tế đóng và giảm mức lãi suất. Ngược lại, tỉ lệ thất nghiệp giảm sẽ đi kèm với nền kinh tế mở và mức lãi suất tăng lên mức tiềm năng. Vấn đề là tiền lương sẽ tăng nếu tỉ lệ thất nghiệp quá thấp và khó tìm được nguồn nhân công. Nền kinh tế sẽ được xem như là đủ việc làm khi tỉ lệ thất nghiệp trong mức từ 5,5% – 6,0%
Nếu trung bình tiền lương tăng rõ rệt, nó có thể là một chỉ số lạm phát tiềm ẩn.
Khi trung bình tuần làm việc có xu hướng cao lên, nó dự đoán việc lao động sẽ gia tăng thêm.
Cơ quan phát hành: Cục điều tra lao động, Bộ lao động Mỹ
Thời điểm phát hành: 8h30 sáng thứ hai của tuần đầu tiên trong tháng (8h30 tối giờ Việt Nam). Dữ liệu lấy từ tháng trước.
Mật độ: hàng tháng
Xét duyệt: dữ liệu được xét duyệt hàng tháng cho tháng trước đó. Nó rất quan trọng và có 1 cuôc xét duyệt thường niên vào tháng 6.
Ý nghĩa : Đây là chỉ số trùng khớp đánh giá sự phát triển kinh tế, việc làm càng tăng nhiều thì tăng trưởng kinh tế càng tăng nhanh.
Tỉ lệ thất nghiệp tăng sẽ đi kèm với nền kinh tế đóng và giảm mức lãi suất. Ngược lại, tỉ lệ thất nghiệp giảm sẽ đi kèm với nền kinh tế mở và mức lãi suất tăng lên mức tiềm năng. Vấn đề là tiền lương sẽ tăng nếu tỉ lệ thất nghiệp quá thấp và khó tìm được nguồn nhân công. Nền kinh tế sẽ được xem như là đủ việc làm khi tỉ lệ thất nghiệp trong mức từ 5,5% – 6,0%
Nếu trung bình tiền lương tăng rõ rệt, nó có thể là một chỉ số lạm phát tiềm ẩn.
Khi trung bình tuần làm việc có xu hướng cao lên, nó dự đoán việc lao động sẽ gia tăng thêm.
Cơ quan phát hành: Cục điều tra lao động, Bộ lao động Mỹ
Thời điểm phát hành: 8h30 sáng thứ hai của tuần đầu tiên trong tháng (8h30 tối giờ Việt Nam). Dữ liệu lấy từ tháng trước.
Mật độ: hàng tháng
Xét duyệt: dữ liệu được xét duyệt hàng tháng cho tháng trước đó. Nó rất quan trọng và có 1 cuôc xét duyệt thường niên vào tháng 6.
19.
Chỉ số Employment Cost Index (ECI) – Chỉ số chi tiêu cho lao
động
Định nghĩa: Chỉ số ECI được
tạo ra để tính toán sự thay đổi trong chi tiêu cho lao động bao gồm tiền công,
tiền lương cũng như lợi ích đạt được.
Ý nghĩa: Nó rất hữu ích trong việc đánh giá xu hướng tiền lương và rủi ro của lạm phát tiền lương. Nếu tình trạng lạm phát xảy ra thì lãi suất sẽ tăng và khi đó cố phiếu, trái phiếu sẽ giảm.
Cơ quan phát hành: Bộ lao động Mỹ, phòng điều tra lao động
Thời điểm phát hành: lúc 8h30 sáng (8h30 tối giờ Việt Nam) ngày giao dịch cuối cùng của tháng 1, tháng 4, tháng 7 và tháng 10. Dữ liệu lấy từ quý trước.
Mật độ: 3 tháng 1 lần
Xét duyệt: Những nhân tố mới thay đổi theo mùa được giới thiệu hằng năm. Xét duyệt này có hiệu lực ít nhất 5 năm và rất quan trọng.
Ý nghĩa: Nó rất hữu ích trong việc đánh giá xu hướng tiền lương và rủi ro của lạm phát tiền lương. Nếu tình trạng lạm phát xảy ra thì lãi suất sẽ tăng và khi đó cố phiếu, trái phiếu sẽ giảm.
Cơ quan phát hành: Bộ lao động Mỹ, phòng điều tra lao động
Thời điểm phát hành: lúc 8h30 sáng (8h30 tối giờ Việt Nam) ngày giao dịch cuối cùng của tháng 1, tháng 4, tháng 7 và tháng 10. Dữ liệu lấy từ quý trước.
Mật độ: 3 tháng 1 lần
Xét duyệt: Những nhân tố mới thay đổi theo mùa được giới thiệu hằng năm. Xét duyệt này có hiệu lực ít nhất 5 năm và rất quan trọng.
20.
Chỉ số Durable Goods Orders – Đơn đặt hàng dài hạn
Định nghĩa: tên đầy đủ là Báo
cáo chuyên nghiệp về những đơn đặt hàng và gửi hàng
dài hạn. Đây là một chỉ số
của chính phủ để đo lường lượng đồng dollar trong các đơn đặt hàng, gửi hàng và
những đơn hàng trống của những mặt hàng được đặt dài hạn.Đó là những mặt hàng
mới hoặc thường được sử dụng trong cuộc sống đời thường từ 3 năm trở lên. Những
phân tích thường loại trừ những đơn đặt hàng vận chuyển vì tính không ổn định
của chúng.
Ý nghĩa: Báo cáo này cung cấp cho chúng ta thông tin về sức mạnh của những nhu cầu của thị trường Mỹ để sản xuất những sản phẩm dài hạn, từ nguồn trong nước cũng như nước ngoài. Khi chỉ số đó tăng, nó làm cho nhu cầu tăng lên, kết quả là tăng sản xuất và tăng công việc. Khi chỉ số giảm thì điều ngược lại sẽ xảy ra.
Đây cũng là một trong những chỉ số đầu tiên về nhu cầu tiêu dùng và kinh doanh trang thiết bị. Lượng tiêu dùng tăng sẽ làm góp phần làm giảm nguy cơ lạm phát.
Nguồn: Bộ phận điều tra của Bộ thương mại
Thời điểm phát hành: khoảng ngày 26 hàng tháng, lúc 8h30 (8h30 tối giờ Việt Nam). Dữ liệu lấy từ tháng trước.
Mật độ: hàng tháng
Xét duyệt: dữ liệu được kiểm tra hằng tháng cho 2 tháng trước đó để phản ánh được nhiều thông tin hơn. Những yếu tố mới thay đổi theo mùa được giới thiệu hàng năm. Xét duyệt này có hiệu lực ít nhất 3 năm và rất quan trọng.
Ý nghĩa: Báo cáo này cung cấp cho chúng ta thông tin về sức mạnh của những nhu cầu của thị trường Mỹ để sản xuất những sản phẩm dài hạn, từ nguồn trong nước cũng như nước ngoài. Khi chỉ số đó tăng, nó làm cho nhu cầu tăng lên, kết quả là tăng sản xuất và tăng công việc. Khi chỉ số giảm thì điều ngược lại sẽ xảy ra.
Đây cũng là một trong những chỉ số đầu tiên về nhu cầu tiêu dùng và kinh doanh trang thiết bị. Lượng tiêu dùng tăng sẽ làm góp phần làm giảm nguy cơ lạm phát.
Nguồn: Bộ phận điều tra của Bộ thương mại
Thời điểm phát hành: khoảng ngày 26 hàng tháng, lúc 8h30 (8h30 tối giờ Việt Nam). Dữ liệu lấy từ tháng trước.
Mật độ: hàng tháng
Xét duyệt: dữ liệu được kiểm tra hằng tháng cho 2 tháng trước đó để phản ánh được nhiều thông tin hơn. Những yếu tố mới thay đổi theo mùa được giới thiệu hàng năm. Xét duyệt này có hiệu lực ít nhất 3 năm và rất quan trọng.
21.
Chỉ số Consumer Price Index (CPI) – Chỉ số giá tiêu dùng
Định nghĩa: Là một chỉ số
dùng để tính toán sự thay đổi giá cả của một số mặt hàng đại diện của các sản
phẩm và dịch vụ như thức ăn, năng lượng, dụng cụ nhà ở, quần áo, phương tiện
giao thông, chăm sóc sức khỏe, giải trí và giáo dục. Nó cũng có thể được coi là
chỉ số chi tiêu cho cuộc sống
Ý nghĩa: Việc theo dõi chỉ số CPI là rất quan trọng bao gồm giá cả của thức ăn và năng lượng sao cho nó bình ổn trong tháng. Nó được xem như là “chỉ số CPI chủ yếu” và cho chúng ta cái nhìn rõ hơn về xu hướng lạm phát trong đó.
Tỉ lệ thay đổi chỉ số CPI nòng cốt này là một trong những thước đo lạm phát chính trong nền kinh tế Mỹ. Khi chỉ số CPI đó vượt xa mức mong đợi sẽ gây nên tình trạng lạm phát.
Cơ quan phát hành: Cục nghiên cứu của Bộ Lao động Mỹ
Thời điểm phát hành: khỏang ngày 13 hàng tháng, lúc 8h30 sáng (8h30 tối giờ Việt Nam). Dữ liệu lấy từ tháng trước.
Mật độ: hàng tháng
Xét duyệt: Những yếu tố thay đổi theo mùa được cập nhật vào tháng Hai với những dữ liệu của tháng Một. Dữ liệu được xét duyệt có hiệu lực trong 5 năm. Tầm quan trọng của việc xét duyệt thấp.
Ý nghĩa: Việc theo dõi chỉ số CPI là rất quan trọng bao gồm giá cả của thức ăn và năng lượng sao cho nó bình ổn trong tháng. Nó được xem như là “chỉ số CPI chủ yếu” và cho chúng ta cái nhìn rõ hơn về xu hướng lạm phát trong đó.
Tỉ lệ thay đổi chỉ số CPI nòng cốt này là một trong những thước đo lạm phát chính trong nền kinh tế Mỹ. Khi chỉ số CPI đó vượt xa mức mong đợi sẽ gây nên tình trạng lạm phát.
Cơ quan phát hành: Cục nghiên cứu của Bộ Lao động Mỹ
Thời điểm phát hành: khỏang ngày 13 hàng tháng, lúc 8h30 sáng (8h30 tối giờ Việt Nam). Dữ liệu lấy từ tháng trước.
Mật độ: hàng tháng
Xét duyệt: Những yếu tố thay đổi theo mùa được cập nhật vào tháng Hai với những dữ liệu của tháng Một. Dữ liệu được xét duyệt có hiệu lực trong 5 năm. Tầm quan trọng của việc xét duyệt thấp.
22.
Chỉ số Consumer Confidence Index – Chỉ số niềm tin tiêu dùng
Định nghĩa: Một cuộc khào sát
5000 người tiêu dung về thái độ của họ đối với tình hình hiện tại và những mong
muốn của họ trước tình trạng nền kinh tế đang tuột giảm.
Ý nghĩa: Báo cáo này đôi khi rất có ích trong việc dự đoán những thay đổi bất ngờ trong những mẫu khảo sát tiêu dùng. Và khi người tiêu dùng sử dụng 2/3 tài khoản của mình vào nền kinh tế, nó giúp chúng ta hiểu thấu được hướng đi của nền kinh tế đó. Tuy nhiên, chỉ khi những chì số đó thay đổi ít nhất 5 điểm thì mới nên được xem xét cẩn thận.
Cơ quan phát hành: Ban điều hành hội nghị
Thời điểm phát hành: 10h sáng ngày thứ 3 tuần cuối của tháng ( 10h tối giớ Việt Nam). Dữ liệu lấy từ tháng trước.
Mật độ: hàng tháng
Xét duyệt: Dữ liệu được kiểm tra hàng tháng trên cơ sở phản hồi điều tra hoàn chỉnh. Những yếu tố thay đổi theo mùa phải được cập nhật định kỳ. Việc kiểm tra không quan trọng lắm.
Ý nghĩa: Báo cáo này đôi khi rất có ích trong việc dự đoán những thay đổi bất ngờ trong những mẫu khảo sát tiêu dùng. Và khi người tiêu dùng sử dụng 2/3 tài khoản của mình vào nền kinh tế, nó giúp chúng ta hiểu thấu được hướng đi của nền kinh tế đó. Tuy nhiên, chỉ khi những chì số đó thay đổi ít nhất 5 điểm thì mới nên được xem xét cẩn thận.
Cơ quan phát hành: Ban điều hành hội nghị
Thời điểm phát hành: 10h sáng ngày thứ 3 tuần cuối của tháng ( 10h tối giớ Việt Nam). Dữ liệu lấy từ tháng trước.
Mật độ: hàng tháng
Xét duyệt: Dữ liệu được kiểm tra hàng tháng trên cơ sở phản hồi điều tra hoàn chỉnh. Những yếu tố thay đổi theo mùa phải được cập nhật định kỳ. Việc kiểm tra không quan trọng lắm.
23.
Chỉ số Chicago Purchasing Managers’ Index (PMI) – Chỉ số của
các nhà quản lí mua hà
Định nghĩa: Nó dựa trên những
cuộc điều tra hơn 200 nhà quản lí đánh giá sức mua trong nền công nghiệp sản
xuất khu vực Chicago nơi phản ánh hoạt động phân phối của cả quốc gia.
Ý nghĩa: Dựa trên chỉ số của Cục dự trữ Philadenphia, có thể sự đoán được gần chính xác hơn chỉ số ISM, nó đang giảm hằng ngày theo tình hình kinh doanh. ISM là chỉ số hướng dẫn hoạt động của toàn bộ nền kinh tế.
Cơ quan phát hành: Hiệp hội các nhà quản lý mua hàng Chicago
Thời điểm phát hành: Ngày giao dịch cuối của tháng lúc 10h sáng (10h tối giờ Việt Nam). Dữ liệu lấy trong tháng hiện tại
Mật độ : hàng tháng
Xét duyệt: dữ liệu được kiểm tra mỗi năm một lần. Việc xét duyệt này cũng không quan trọng lắm
Ý nghĩa: Dựa trên chỉ số của Cục dự trữ Philadenphia, có thể sự đoán được gần chính xác hơn chỉ số ISM, nó đang giảm hằng ngày theo tình hình kinh doanh. ISM là chỉ số hướng dẫn hoạt động của toàn bộ nền kinh tế.
Cơ quan phát hành: Hiệp hội các nhà quản lý mua hàng Chicago
Thời điểm phát hành: Ngày giao dịch cuối của tháng lúc 10h sáng (10h tối giờ Việt Nam). Dữ liệu lấy trong tháng hiện tại
Mật độ : hàng tháng
Xét duyệt: dữ liệu được kiểm tra mỗi năm một lần. Việc xét duyệt này cũng không quan trọng lắm
24. chỉ
số . Beige Book
Định nghĩa : Mỗi Ngân hàng
của Cục dự trữ Liên bang tập hợp những thông tin liên quan đến tình trạng của
nền kinh tế hiện nay dựa trên những báo cáo của Giám đốc các Ngân hàng và chi
nhánh và giới thiệu chúng với những doanh nhân lớn, những nhà kinh tế, những
chuyên gia thị trường, và những nguồn lực khác. Quyển Beige Book này tóm tắt
lại những thông tin theo từng lĩnh vực.
Ý nghĩa: Cục dự trữ Liên bang sử dụng những báo cáo này, công với những chỉ số khác để quyết định mức lãi suất tại cuộc họp FOMC (Federal Open Market Committee). Cuộc họp này được tổ chức 2 tuần sau khi phát hành quyển Beige Book.
Nếu quyển Beige Book cho thấy tình trạng lạm phát tăng cao, thì Cục dự trữ sẽ tăng lãi suất. Và ngược lại, nếu Beige book cho thấy tình trạng giảm lạm phát, có thể lãi suất sẽ giảm
Cơ quan phát hành : Ban điều hành Dự trữ liên bang
Thời điểm phát hành: 2:00 chiều thứ tư trước cuộc họp FOCM
Mật độ : một năm 8 lần
Xét duyệt: dữ liệu không phải xét duyệt
Ý nghĩa: Cục dự trữ Liên bang sử dụng những báo cáo này, công với những chỉ số khác để quyết định mức lãi suất tại cuộc họp FOMC (Federal Open Market Committee). Cuộc họp này được tổ chức 2 tuần sau khi phát hành quyển Beige Book.
Nếu quyển Beige Book cho thấy tình trạng lạm phát tăng cao, thì Cục dự trữ sẽ tăng lãi suất. Và ngược lại, nếu Beige book cho thấy tình trạng giảm lạm phát, có thể lãi suất sẽ giảm
Cơ quan phát hành : Ban điều hành Dự trữ liên bang
Thời điểm phát hành: 2:00 chiều thứ tư trước cuộc họp FOCM
Mật độ : một năm 8 lần
Xét duyệt: dữ liệu không phải xét duyệt
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét